This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Triệu phú tật nguyền cùng con quay yoyo


Bị tật nguyền bẩm sinh, nhưng Alan Nagao đã vươn lên thành triệu phú người Mỹ gốc Nhật nhờ bán được 30 triệu yoyo (con quay) trên toàn thế giới.
Alan Nagao bị dị tật do loại thuốc Thalidomide mà mẹ ông đã dùng khi mang thai nên chỉ có một tay và chân lành lặn. Thậm chí, chân phải của ông chỉ là một mẩu thịt nên ngay từ nhỏ Alan đã phải dùng chân giả.

Thói quen tốt trên con đường khởi nghiệp

Thói quen có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người. Một cách vô thức, cùng với thời gian, thói quen ảnh hưởng đến phẩm đức, bộc lộ bản chất và quyết định đến sự thành bại của mỗi chúng ta.


Con đường khởi nghiệp của Sam Sung


Giáo sư Ahn Cheol-soo (Đại học Seoul) nói: “Trong lịch sử nhân loại luôn có những cơ hội lập nghiệp mới xuất hiện, người làm ăn đích thực là người có thể tìm thấy các cơ hội mà người khác không thấy để tạo ra những giá trị mới“. Những bậc thầy kinh doanh đã nắm bắt được những cơ hội mà người khác không thấy để bền bỉ đương đầu đạt đến thành quả cuối cùng.

Con đường khởi nghiệp đáng tự hào của ông già KFC

Vua KFC: 'Không bao giờ nằm trên giường lo lắng'

Trắng tay ở tuổi 66 và lần đầu tiên trở thành triệu phú đô la ở tuổi 74 là trường hợp của Harland Sanders, “Ông già Kentucky”, người sáng lập ra thương hiệu KFC.

“Ý tưởng một người đã 66 tuổi bắt đầu lại từ đầu luôn ám ảnh nhưng đó cũng là phần thú vị nhất cuộc đời tôi. Dù có niềm tin lớn vào sản phẩm của mình, vào chính bản thân mình nhưng đó vẫn là một thử thách quá lớn”.

Cuộc đời và thành công của ông vua chứng khoán Warren Buffett

Con Đường Thành Công Của Tỷ Phú Warren Buffett – Phần 1
Theo xếp loại của tạp chí Forbes, Warren Buffett là nhà tỷ phú giàu thứ hai thế giới với tài sản lên tới gần 50 tỷ đôla. Những thành công về đầu tư, đặc biệt về đầu tư chứng khoán của ông đã trở thành huyền thoại và thật khó có thể liệt kê hết. Không phải là những cơ duyên, sự gặp thời, sự nghiệp mà ông gây dựng được là do tài năng, niềm đam mê và những nỗ lực phi thường…Với Buffett thì cẩn thận là vốn liếng và tài phú là vô tận.

1. Tài năng bẩm sinh

Warren Edward Buffett sinh ngày 30 tháng 8 năm 1930 tại Omaha bang Nebraska nước Mỹ. Cha ông là một nhà môi giới cổ phiếu đồng thời là một nghị sỹ. Buffet là con trai duy nhất xếp thứ 2 trong số 3 người con.

Cả gia tộc Buffett đều có tài kinh doanh cổ phiếu, nhưng trong chuyện chi tiêu tiền nong họ luôn luôn thận trọng, cả nhà tôn sùng phương châm: “Cẩn thận là vốn liếng”. Đời ông nội Buffett đã mở một cửa hàng ở Ohama đặt tên “Cửa hàng cha con nhà Buffett”. Cửa hàng đó buôn bán ngày càng phát đạt, đáng buồn là cha của Buffett không tỏ ra hào hứng để trở thành ông chủ của cửa hàng. Ông liền tự mình đi tìm công việc, đầu tiên là làm nhân viên trong một công ty bảo hiểm, sau đó làm đại lý tiêu thụ chứng khoán cho ngân hàng.

Có vẻ như được thừa hưởng gien di truyền của gia tộc, ngay từ khi còn rất nhỏ Buffett đã tỏ ra rất cẩn trọng, khi tập đi cậu gập đầu gối, dang hai tay ra trông hệt con chim cánh cụt, có lẽ cậu cho rằng với tư thế đó sẽ không bị ngã đau

Khi chỉ là một cậu bé con, ông đã thể hiện năng khiếu đáng ngạc nhiên về cả đầu tư tiền và kinh doanh. Những người quen kể lại rằng ông có khả năng kì lạ trong việc nhẩm tính những dãy số trong đầu – một khả năng mà Warren tiếp tục làm ngạc nhiên đồng sự sau này.

Khi Buffett lên 6 tuổi, lần đầu tiên được cha cho đi nghỉ mát. Tại khu nghỉ mát, cậu dùng 25 cent mua một mua một thùng 6 hộp Coca Cola từ cửa hàng tạp hoá của ông nội và bán lại mỗi hộp với giá 5 cent cho du khách để kiếm được 5 cent tiền lãi
Sau kinh nghiệm kiếm tiền lần đầu đó, cứ mỗi đợt mùa hè đến, Buffett lại lấy nước giải khát tồn kho trong cửa hàng tạp hóa của cha đi rao bán cho từng nhà, khi bán hết hàng cậu chạy về kết toán với cha, số tiền lời cậu bỏ vào trong con lợn đất của mình. Khi Buffett say sưa học cách buôn bán, thì lũ bạn cùng lứa tuổi của cậu chỉ biết chạy nhảy chơi bời ngoài phố.

Lúc Buffett 10 tuổi, cha cho theo lên thành phố New York chơi, trong đó có tiết mục tham quan sở giao dịch chứng khoán ở phố Wall, lần đầu tiên bước chân vào sở giao dịch chứng khoán cậu đã thấy hết sức cuốn hút, giống như bọn trẻ khác đam mê trò chơi của chúng vậy.

Sau khi say mê cổ phiếu, Buffett thường xuyên đến chơi tại sở giao dịch cổ phiếu của cha, cậu chăm chú quan sát các dãy số liên tục biến hóa, ghi chép vào sổ tay, về nhà bắt tay vẽ đồ thị lên xuống của giá cổ phiếu, khi thấy đồ thị lên xuống thất thường, lòng cậu cũng thổn thức không yên.




6 năm sau, Buffett đã đặt những bước đi đầu tiên vào thế giới tài chính cao cấp – đầu tư chứng khoán. Năm 12 tuổi, cậu bé Warren đã mua 3 cổ phiếu của Cities Service (cổ phiếu xây dựng thành phố) với giá $38 một cổ phiếu cho bản thân và chị gái Doris. Không lâu sau đó, giá cổ phiếu giảm xuống 27 USD. Hoảng sợ nhưng không nản lòng, Warren giữ cổ phiếu cho đến khi nó tăng bật lại với giá 40$, trừ tiền hoa hồng, Buffett thu lãi ròng 5$.

Ngay lập tức, cậu bé đã bán nó – một sai lầm mà cậu sớm phải hối tiếc: Cities Service đã tăng tới $200. Nói cách khác Buffett thu được chút lãi cỏn con mà lại để tuột khỏi tầm tay một khoản rất lớn, cậu cho rằng mình đã nhận định đúng nhưng còn thiếu kiên trì. Nhà tỷ phú Warren Buffett đã nhận bài học đầu tiên về đầu tư vốn dài hạn trong đời: kiên nhẫn là một thói quen tốt.

Đặc biệt, Buffett có một trí nhớ tuyệt vời, chỉ cần xem qua là nhớ kỹ, vì vậy thành tích học tập của cậu rất xuất sắc, cậu từng được lên vượt lớp, do đó khi học cấp 2 tuổi đời vẫn còn nhỏ.

Năm 1947, khi mới 17 tuổi Buffett tốt nghiệp cấp 3, xếp thứ 16 trong 374 học sinh tốt nghiệp toàn trường, lời phê của giáo viên chủ nhiệm là:”Học sinh xuất sắc đặc biệt là môn toán, sau này sẽ trở thành một nhà kinh doanh cổ phiếu tài giỏi”.

Chưa vào Đại học, Warren đã kiếm được $5,000 tiền phát hành báo ( ngang với $42.610,81 năm 2000). Cha ông có một kế hoạch khác, và cố thuyết phục con trai mình học kinh doanh ở Đại học Pennsylvania. Buffett ở đó 2 năm, than phiền rằng ông còn biết nhiều hơn cả các giáo sư giảng dạy tại đó. Và khi Howard – cha ông bị đánh bại trong một cuộc chạy đua vào quốc hội vào năm 1948, Warren quyết định trở về nhà ở Omaha và chuyển tới Đại học  Nebraska-Lincoln. Buffett thi vào khoa đầu tư quản lý xí nghiệp, cậu vừa học kiến thức lý luận chuyên ngành đầu tư, vừa tích cực tham gia thực tiễn đầu tư. Ông tốt nghiệp chỉ sau 3 năm với 10 môn về thương mại, kinh tế,…và giành được tấm bằng cử nhân kinh tế loại ưu.

Ngoài giờ học, Buffett làm thêm công việc đưa báo. Cậu lái một chiếc xe Ford sản xuất năm 1941 chạy khắp miền tây nam để đưa các số tạp chí Lincoln cho 50 trẻ bán báo ở 6 thôn, được hưởng thù lao mỗi giờ 75 cent, cậu còn mua giúp câu lạc bộ đánh Golf 220 tá quả cầu golf kiếm được 1200 đô la, cộng toàn bộ số tiền tích trữ được Buffett đã có 9600 đô la.

Warren tiếp tục đăng kí xin học tại Harvard Business School. Trường đại học danh tiếng này sau đó đã phải thú nhận có một quyết định sai lầm nhất trong lịch sử : đánh trượt ông với lí do “ quá non trẻ”. Bị xem thường, Warren đã xin vào trường Columbia, nơi hai nhà đầu tư cổ phiếu lừng danh Ben Graham và David Dodd dạy – một bước ngoặt tuyệt vời làm thay đổi cuộc đời ông.

2. Thành công bắt nguồn từ đam mê và cả…nỗi cay đắng

Ben Graham, giáo sư giảng dạy trường ĐH Columbia nơi Warren học là một nhà đầu tư nổi tiếng trong suốt những năm 1920. Ở vào thời điểm mà hầu như cả thế giới đang tiếp cận với vũ đài đầu tư tài chính như một trò chơi roulette ( một trò may rủi) khổng lồ, Ben Graham đã biết tìm kiếm những loại cổ phiếu giá rẻ và ít rủi ro. Khi 40 tuổi, Ben Graham phát hành cuốn “Security Analysis” ( Phân tích chứng khoán)

Thời gian đó, đầu tư cổ phiếu thất thường và quá nhiều rủi ro giống như một trò đánh bạc. Chỉ trong khoảng 3, 4 năm sau thời kì khủng hoảng 1929, chỉ số Dow Jone giảm từ 381.17 xuống 41.22. Thời điểm này, Graham bước vào với nguyên tắc của giá trị kinh doanh “ thực chất”- một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị thực của doanh nghiệp. Sử dụng nguyên tắc này, những nhà đầu tư có thể quyết định cái nào làm nên giá trị của công ty và có những quyết định đầu tư theo đó. Cuốn sách tiếp theo của ông- The Intelligent Investor ( Nhà đầu tư thông minh) được Warren ca tụng như là “ một cuốn sách vĩ đại nhất về đầu tư từng được viết”.

Thông qua những nguyên tắc đầu tư đơn giản mà sâu sắc, Ben Graham đã trở thành thần tượng của chàng trai trẻ 21 tuổi Warren Buffett. Chơi cổ phiếu từ năm 6 tuổi, nhưng tới lúc này, niềm đam mê chứng khoán mới thực sự hình thành trong con người Warren Buffett.

Khi khám phá ra rằng thầy mình là Chủ tịch của một công ty bảo hiểm nhỏ là GEICO. Chàng thanh niên đã đáp tàu tới Washington D.C vào một buổi sáng để tìm ra trụ sở của công ty này. Khi bước vào đó, các cánh cửa đã bị khoá. Không dừng lại, Buffett đập cửa liên hồi cho đến khi một người bảo vệ xuất hiện. Warren đã hỏi có ai trong nhà không. Như một may mắn ( hay định mệnh ), câu trả lời là có. Anh được dẫn tới gặp một người đàn ông vẫn đang làm việc trên tầng sáu. Ngay lập tức anh hỏi các câu hỏi về công ty và hoạt động của công ty. Người đàn ông đó là Lorimer Davidson, phó giám đốc tài chính. Cuộc đối thoại kéo dài suốt 4 giờ ấy đã đẹm lại cho Buffett những kinh nghiệm quý báu và theo ông đến suốt cuộc đời.

Tuy nhiên, trong thời kì học ở trường ĐH Columbia, Warren Buffett chỉ nhận được một điểm A+ từ Graham. Thất vọng, cả Ben Graham và cha của Warren đều khuyên anh không nên làm việc ở Wall Street sau khi tốt nghiệp. Vẫn kiên nhẫn, Buffett xin được làm việc cho công ty của Graham không công nhưng bị từ chối. Vị trí mà anh xin làm đã được trao cho người khác.

3. Trở về quê hương lập nghiệp

Buffett lấy được bằng thạc sĩ kinh tế với thành tích xuất sắc này anh trở về quê hương Omaha làm việc trong sở giao dịch cổ phiếu của cha.  Chính tại đây anh đã có cơ hội đầu tư tốt nhất và giành được thành công bước đầu.

Anh bỏ ra 8000 đô la mua cổ phiếu của công ty bảo hiểm công vụ quốc gia, sau đó bán lại cho các khách hàng còn nửa tin nửa ngờ, chưa được 2 năm giá các cổ phiếu này đã tăng gấp đôi.

Trong thời gian làm việc tại công ty, Buffett thường xuyên đọc các tài liệu về tiền tệ tại thư viện Lincoln của chính phủ bang Nebraska. Anh đọc sách và tra cứu tài liệu say mê như trẻ con đọc truyện tranh, với một khát vọng cháy bỏng đầu tư vào thị trường cổ phiếu. Qua từng trang sách anh dần dần tìm ra đầu mối đầu tư, ví dụ loại cổ phiếu đời sống thành thị ở Kansas, cổ phiếu khí đốt thiên nhiên Jenaweschange, trái phiếu bảo hiểm miền tây,… đang giao dịch trên thị trường đều hứa hẹn tăng giá khoảng 3 lần trở lên.

Qua phân tích tư liệu Buffett tìm được cơ sở để trở thành một nhà đầu tư cổ phiếu kiệt xuất, để hoàn thiện hơn nữa kỹ năng đầu tư của mình, anh còn tham gia giảng dạy mấy học kỳ về khóa trình “nguyên lý đầu tư”.

Warren nhận một công việc trong văn phòng môi giới chứng khoán của cha mình và bắt đầu ngắm nghía một cô gái có tên là Susie Thompson.

Năm 1952, họ cưới nhau và chuyển đến sống trong một căn hộ 3 buồng bình dân với giá thuê 65 USD mỗi tháng. Khi cô con gái ra đời, để tiết kiệm tiền, họ đã tự làm chiếc nôi cho cô bé từ một ngăn kéo chạn.

Suốt những năm đầu, những sự đầu tư của Warren hầu như chỉ giới hạn ở một vài bất động sản và không mấy thành công. Thời kì này, ông phải dạy học ban đêm tại trường ĐH với nỗ lực chiến thắng nỗi sợ hãi nói chuyện trước đám đông. Tuy nhiên, ơn trời, thời kì này nhanh chóng chấm dứt. Năm 1954, Ben Graham đã gọi điện mời nhà môi giới trẻ tuổi tới làm việc cho mình. Warren cuối cùng cũng nhận được cơ hội mà ông chờ đợi đã lâu.

4. Nỗ lực và khả năng tiên tri

Thời kì làm việc cho Ben Graham, Buffett ngồi cả ngày nghiên cứu những bản tin, tìm kiếm những cơ hội đầu tư. Anh mua cổ phiếu theo nguyên tắc chọn cổ phiếu của thầy, khi anh và các đồng sự phát hiện thấy loại cổ phiếu nào rẻ tiền liền báo cáo với thầy, thầy sẽ quyết định mua loại nào, thực tế cho thấy các quyết sách của thầy bao giờ cũng chính xác, do đó tỷ lệ thu hồi vốn hàng năm của công ty Graham thường đạt 19%.

Tuy nhiên, sự khác nhau về quan điểm đầu tư giữa Graham và Buffett bắt đầu bộc lộ rõ. Warren bắt đầu quan tâm tới việc một công ty hoạt động như thế nào – cái mà khiến công ty đó nổi bật so với những đối thủ cạnh tranh. Ben đơn giản chỉ muốn những con số. Ngược với Warren quan tâm nhiều tới cung cách quản lí của công ty như một nhân tố quan trọng khi quyết định đầu tư, Graham chỉ nhìn vào bản quyết toán và tình hình thu lợi nhuận.

Các xí nghiệp được anh đầu tư theo tính toán dự đoán của mình cũng đều thu lãi khá cao, trong thời gian làm việc cho công ty Graham ở New York, Buffett đã thu được khoản tiền không nhỏ. Ngay trong năm đầu làm việc đã giành được thành tựu khả quan. Có một lần một nhà buôn ở thành phố Philadenphia giới thiệu cho Buffett loại cổ phiếu bảo hiểm của công ty bảo hộ gia đình với mức giá 15$ một suất, do công ty này không có tài liệu công khai, nên anh đã phải tìm đến văn phòng của công ty này để tra cứu tài liệu. Sau khi xem xét tìm hiểu anh đánh giá loại cổ phiếu này giá rất rẻ, anh liền đề nghị bên đối tác với thầy giáo mua vào nhưng bị họ từ chối. Anh liền quyết định dùng tài khoản cá nhân của mình mua một số cổ phiếu, kết quả chỉ trong một thời gian ngắn cổ phiếu đó đã tăng lên 370 đô la một suất.

Buffett còn phát hiện một loại cổ phiếu khác tên là cổ phiếu đường sắt liên hợp đang giao dịch với mức giá 45$/suất, qua tính toán anh dự đoán giá trị bằng tiền mặt của loại cổ phiếu này có thể lên tới 120$/suất. Anh cảm thấy không thể tin nổi vào vận may to lớn như vậy, nhưng thầy giáo và là ông chủ Graham lại tỏ vẻ hờ hững. Một lần nữa, anh lại lấy tài khoản riêng để mua, đúng như dự đoán, cổ phiếu này tăng vọt, những ví dụ này chứng minh linh cảm của anh bao giờ cũng chính xác. Trong khoảng từ năm 1950 tới 1956, Warren lẳng lặn tự mình đầu tư, gây dựng được số vốn lên tới $140,000 từ $9,800 ban đầu.

Cũng năm 1954 ông có đứa con kế là Howard Graham Buffett. Năm 1956 Benjamin Graham giải thể công ty để nghỉ hưu nên Warren Buffett quay về Omaha khởi nghiệp với số vốn tích được là 140.000 USD.

5. Phát triển sự nghiệp

Lần này, trở về quê anh quyết định không làm thuê cho ai nữa mà độc lập đứng ra đầu tư cổ phiếu. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, Warren Buffett tập trung bạn bè và người nhà trong đó có cả bà mẹ, chị gái, anh rể, bà cô, bạn nối khố từ nhỏ và luật sư của anh, tất cả là 7 người góp vốn được 105.000 đô la và thành lập nên công ty cổ phần hữu hạn Buffett Associates, Ltd, riêng anh chỉ góp vốn 100 đô la và bộ óc siêu việt. Tên công ty gọi tắt là Công ty hữu hạn Buffett do anh phụ trách.

Khi đó anh mới 25 tuổi, anh hứa với mọi người sẽ quản lý tiền của họ như quản lý tiền của chính mình, nhưng rất ít báo cáo tài chính với các thành viên công ty. Anh không hề giải thích đang đầu tư cổ phiếu cho công ty nào, hoặc vì sao lại đầu tư vào công ty đó, vì cho rằng những người đó chưa chắc đã hiểu. Hơn nữa làm như vậy sẽ gây nhiều phiền hà cho anh, mất nhiều thời gian quý báu mà nhẽ ra anh có thể sử dụng để nghiên cứu tìm hiểu thị trường, nhưng nguyên nhân  chính là anh sợ họ cản trở quyết định đầu tư của anh.

Anh quy định các cổ đông trong công ty  mỗi năm chỉ họp một lần vào ngày 31 tháng 12, hôm đó các thành viên có thể tăng hoặc rút vốn đầu tư, còn các trường hợp khác đều do Buffett một mình xử lý tiền nong, anh thỏa thuận với mọi thành viên, sau khi họ rút vốn thì được hưởng mức lãi 6%/năm và 3/4 lợi nhuận, còn anh hưởng 1/4 lợi nhuận.

Buffett chuyên tâm nghiên cứu lý thuyết đầu tư của thầy giáo nhưng không lệ thuộc vào lý thuyết của thầy. Ví dụ, thầy rất chú trọng phân tích số liệu tài vụ, nhưng anh lại chú trọng phân tích doanh nghiệp, không chỉ xem xét giá trị tài sản trên sổ sách của xí nghiệp mà còn đánh giá tiềm năng của xí nghiệp đó. Anh nắm vững như trong lòng bàn tay tất cả các loại trái phiếu và cổ phiếu của phố Wall, ghi nhớ trong lòng các bản báo cáo tài vụ và nợ có của từng xí nghiệp. Anh hình dung rất rõ diện mạo động thái hoạt động giao dịch chứng khoán của phố Wall, giống như anh phân biệt rõ từng viên gạch trên mảnh sân nhà mình, anh nghĩ rằng không ai phân tích tình hình sát đúng hơn anh.

Ông đã mua một ngôi nhà giá $31,500 với một biệt hiệu trìu mến Buffett’s Folly (Sự điên rồ của Buffet), quản lí công ty từ giường ngủ và sau đó là một văn phòng nhỏ. Kể từ khi đó, cuộc sống của ông đã có bước khởi sắc, ông có 3 đứa con, một người vợ tuyệt vời và một doanh nghiệp thành công.

Mùa hè năm 1957, một lần nữa Buffett ký hợp đồng với những người cộng tác để chính thức trở thành các nhà đầu tư cổ phiếu chuyên nghiệp. Đến cuối năm đó anh đã có 5 xí nghiệp đầu tư đối tác, tổng giá trị tài sản đạt 500 ngàn đô la.

Câu truyện và sự ra đời coca- cola

Câu chuyện về sự ra đời của nước uống Coca-Cola

Là ông chủ đầu tiên của Coca-Cola, nhưng thực sự Asa Griggs Candler lại không phải là người phát minh ra thứ nước uống đặc biệt này. Người đầu tiên sáng chế ra Coca-Cola là dược sĩ John Styth Pemberton, chủ một phòng thí nghiệm và hiệu thuốc tư nhân. Với mục đích sáng chế ra một loại nước thuốc bình dân để chống đau đầu, mệt mỏi, Pemberton đã mày mò thử nghiệm và pha chế ra một loại sirô có màu đen như cà phê. Chỉ cần một thìa sirô pha cùng với một cốc nước lạnh là có được thứ nước giải khát nhưng có thể làm bớt nhức đầu, tăng sảng khoái.

Pemberton giữ bí mật công thức sáng chế và chỉ biết rằng thành phần quan trọng nhất của thứ nước uống này có chứa một tỉ lệ nhất định tinh dầu được chiết suất từ lá và quả của cây Kola. Đây là loài cây chỉ có ở vùng rừng nhiệt đới Nam Mỹ và có thành phần đáng kể koffein và cả kokain. Chính nhờ vậy mà nước uống có tinh dầu Kola đã có tác dụng làm sảng khoái, chống mệt mỏi. Cái tên Coca-Cola được Frank M.Robinson, kế toán trưởng của Pemberton đặt tên bắt đầu từ nguồn gốc đó nhưng đã thay chữ “K” bằng chữ “C” có vẻ dễ nhìn và quen thuộc hơn.

Khi sáng chế ra nước uống Coca-Cola, dược sĩ Pemberton rất tâm đắc và ông đi tiếp thị ở khắp nơi, đặc biệt trong các quán “Soda-Bar” đang rất thịnh hành ở thành phố Atlanta . Đó là vào năm 1886. Nhưng Pemberton phải thất vọng vì thứ giải khát màu nâu quá mới lạ và không mấy ai chịu uống thử, vì mọi người vẫn coi đó nếu uống được thì cũng là một loại thuốc chứ không phải là nước giải khát.

Công thức pha chế Coca-Cola được hoàn thiện một cách rất tình cờ. Một nhân viên quán bar “Jacobs Pharmacy” đã nhầm lẫn pha siro Coca-Cola với nước sô đa thay vì nước lọc bình thường như đúng công thức của Pemberton. Nhưng kỳ diệu thay, cốc Coca-Cola bị pha nhầm đó lại ngon miệng và làm sảng khoái khác thường. Coca-Cola khi đó mới thực sự là nước giải khát, có thể phục vụ được số đông người tiêu dùng. Từ đó, quán bar này trung bình mỗi ngày pha bán được 9 đến 15 ly.

Tuy vậy cả một năm đầu tiên Pemberton chỉ mới bán được có 95 lít sirô Coca - Cola.

Coca-Cola đã thuộc về Asa Griggs Candler như thế nào?


Asa Griggs Candler - ông chủ đầu tiên của Coca-Cola

Asa Griggs Candler sinh năm 1851 tại làng Rica, vùng Carrol thuộc bang của Hoa Kỳ. Candler xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Quá trình công nghiệp hoá diễn ra rất nhanh đã buộc chàng trai Asa Candler phải rời bỏ quê lên thành phố kiếm sống như bao người khác, với hai bàn tay trắng. Nói đúng hơn là Asa Candler chỉ có trong tay vẻn vẹn có đúng 1,75 USD. Với số tiền đó, Asa chỉ có thể sống cầm hơi trong vài ba ngày tại chốn đô thị Atlanta lộng lẫy.


Vào năm 1873, Asa mới có 22 tuổi. Chẳng có nghề gì trong tay, vốn cũng không có nên Asa Candler chỉ có thể kiếm sống bằng nghề bán dạo đủ mọi thứ tạp hoá linh tinh. Sự cần cù và nhanh nhẹn của Asa Candler đã giúp ông lớn lên và thành đạt nhanh trong kinh doanh. Candler mở được cửa hàng kinh doanh tạp hoá, mỹ phẩm. Dần dần ông chuyên về kinh doanh dược phẩm thông dụng và hoá chất dùng trong gia đình. Không chỉ bán lẻ, ông còn bắt đầu bán buôn cho cả những người bán rong và những cửa hàng nhỏ nơi xa xôi. Tham vọng kinh doanh lớn của Asa Griggs Candler hình thành và thể hiện từ khi đó.

Những quan hệ mua bán kinh doanh đã dẫn dắt Candler quen biết ông dược sĩ Pemberton. Candler cũng được thưởng thức thứ nước giải khát đặc biệt màu nâu mà ông không thể nào quên được và cho rằng không thể có gì so sánh. Đúng thời gian này, Pemberton đang kinh doanh rất khó khăn, nợ tiền hàng rất nhiều. Thế là cơ hội ngàn năm có một đã đến với nhà kinh doanh nhạy cảm với thời cơ như Asa Candler. Ông liều lĩnh và quyết đoán mua đứt công thức cùng với bản quyền pha chế Coca-Cola.

Số tiền 2.300 USD mà Candler phải trả chẳng là gì đối với ngày nay nhưng cũng là một khoản tiền đáng kể vào thời điểm năm 1891. Ngay trong năm 1892, Candler đem hết vốn liếng dành dụm sau gần 20 năm kinh doanh để lập công ty nước giải khát Coca - Cola.

Tuyệt đối bí mật công thức pha chế

Sau khi hoàn thiện với soda là nước có ga, công thức Coca - Cola không đổi từ đó. Về sau, nhà sản xuất Coca-Cola chỉ có khuyên thêm người tiêu dùng nên uống Coca-Cola lạnh ở nhiệt độ 3,30 độ X là ngon nhất.

Những chuyện kể về việc lưu giữ và bảo quản bí mật công thức pha chế Coca-Cola vẫn được kể lại và đưa tin như những câu chuyện bí ẩn mang tính huyền thoại. Chính nhờ sự bảo vệ bí mật công thức pha chế một cách tuyệt đối mà Coca-Cola đã làm khó khăn rất nhiều cho những kẻ muốn làm giả. Kể cả trong thời kỳ khoa học rất phát triển nhưng xác định đúng hoàn toàn công thức pha chế của Coca- Cola là điều không đơn giản.

Trên thực tế, Asa Candler khi sinh thời đã rất chú trọng tới bí mật công nghệ và bản quyền thương hiệu. Khi có trong tay công thức Coca-Cola, điều đầu tiên Asa Candler phải làm là đăng ký ngay sở hữu bản quyền công thức pha chế và tên gọi Coca-Cola. Asa Candler đã có một ý tưởng tuyệt vời vừa để bảo đảm chất lượng vừa giữ gìn bí mật cao nhất của công thức pha chế. Thay vì bán sirô Coca-Cola đậm đặc thì Candler đã pha sẵn để cung cấp cho khách hàng, người tiêu dùng. Với cách bán hàng thuận tiện đó thì lượng Coca-Cola tiêu thụ tăng rất nhanh, nhưng đồng thời phải có rất nhiều cơ sở, xưởng chuyên pha chế và đóng chai.

Asa là người năng động với nhiều ý tưởng kinh doanh sáng tạo, do không thể đủ sức tự mình đầu tư và quản lý các nhà xưởng đóng chai nên ông đã chủ động mời chào, ký hợp đồng với các nhà đầu tư cá nhân. Cả một hệ thống Coca- Cola gồm các nhà máy và đóng chai Coca -Cola độc lập đã hình thành mà Asa Candler không hề phải bỏ vốn.

Trong vòng chỉ 10 năm, từ năm 1899 đến năm 1909, đã có 379 nhà máy Coca-Cola ra đời. Tất cả các nhà máy đều được hưởng thương hiệu của Coca-Cola, theo công thức của Coca-Cola. Candler là người đầu tiên phát minh ra khái niệm “hệ thống Coca-Cola” như thế. Cũng chính nhờ tiếp tục áp dụng “hệ thống Coca-Cola” này mà nước giải khát Coca-Cola đã được các thế hệ điều hành sau Asa Candler đem đi chinh phục khắp thế giới.

Ngay từ đầu, Asa Candler đã rất kiên quyết trong việc bảo vệ chất lượng và bí mật công nghệ. Vì vậy thành phần quan trọng nhất để có nước giải khát Coca-Cola thành phẩm là sirô đậm đặc Coca-Cola vẫn do Asa Candler trực tiếp cung cấp đến từng nhà máy. Tập đoàn Coca-Cola ngày nay đã phát triển gấp hàng nghìn lần so với trước nhưng về cơ bản vẫn tuân thủ nguyên tắc kinh doanh đó của ông chủ đầu tiên Asa Griggs Candler.

Không tiếc tiền cho quảng cáo

Asa Candler đã vô cùng nhạy cảm khi phát hiện và đăng ký thương hiệu Coca-Cola. Thế nhưng các chuyên gia marketing còn khẳng định ông là một chuyên gia bậc thầy về marketing và xây dựng thương hiệu. Ai cũng biết rằng chất lượng, mùi vị của Coca-Cola không hề thay đổi từ cả hơn 100 năm nay. Cái giỏi của tập đoàn Coca-Cola chính là các hoạt động quảng cáo, marketing để xây dựng nên một thương hiệu hàng hoá nổi tiếng.

Asa Candler không tiếc tiền cho quảng cáo để xây dựng thương hiệu. Ngay từ năm 1895, nước giải khát Coca-Cola đã có mặt ở tất cả các bang của Mỹ. Asa Candler đã thực hiện một chiến dịch giới thiệu sản phẩm lớn chưa từng có vào thời điểm bấy giờ. Đâu đâu Coca-Cola cũng có những đội tiếp thị bán khuyến mại với cái giá 5 cent quá rẻ cho một ly. Đồng thời trên các phương tiện đại chúng và các biển quảng cáo, Coca-Cola xuất hiện với tần suất nhiều chưa từng có.

Bắt đầu từ số không của một thứ nước giải khát đặc biệt chưa bao giờ có trước đó, ông chủ Asa Candler đã như có phép thần khi biến Coca - Cola trở thành thứ nước giải khát “quốc hồn, quốc tuý” của người Mỹ. Nếu như trong năm đầu tiên, Candler chỉ bán được trên 30.000 lít Coca-Cola thì chưa đến 30 năm sau cả tập đoàn đã tiêu thụ được trên 70 triệu lít.

Để bảo vệ và xây dựng thương hiệu, Asa Candler đã nghĩ ngay đến việc phải có một bao bì đặc thù cho sản phẩm. Với ý nghĩ đó năm 1900 Candler đã đặt riêng chai thuỷ tinh màu xanh tên Coca-Cola. Khi nước uống Coca-Cola càng nổi tiếng thì càng là đối tượng bị làm giả. Vì vậy, năm 1916, chỉ một năm trước khi qua đời, Asa Griggs Candler đã đưa tiếp loại chai hình lọ hoa Tiffany không lẫn đi đâu được của Coca- Cola. Mẫu bao bì này được đăng ký bảo hộ độc quyền và còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Năm 1919, những người con và cháu được huởng thừa kế của Asa Griggs Candler đã bán cả tập đoàn Coca-Cola cho một tổ hợp tài chính ngân hàng với cái giá 25 triệu USD, có thể tương đương với hơn 1 tỉ USD tính theo sức mua tại thời điểm đó.

Câu truyện thành công của McDonald's

Với cách thức quản lý nhượng quyền chặt chẽ và thực đơn phù hợp với từng thị trường, McDonald's hiện là một trong những chuỗi cửa hàng ăn nhanh thành công nhất thế giới với doanh thu 2012 hơn 27,5 tỷ USD.
Năm 1940, hai anh em Richard và Maurice McDonald thành lập nhà hàng McDonald's Bar-B-Q tại California (Mỹ). Ban đầu, đó chỉ là một cửa hàng điển hình, khách được phục vụ tận bàn, với thực đơn đa dạng. 8 năm sau, hai anh em cải tiến McDonald's Bar-B-Q thành nhà hàng tự phục vụ. Đồ ăn cũng được giảm xuống chỉ còn vài món như hamburger, cheeseburger, nước uống có gas, sữa, cà phê, khoai tây chiên và bánh. Món tủ của họ trong thực đơn là hamburger giá 15 cent.

Năm 1954, trong một lần ghé thăm McDonald's, anh nhân viên kinh doanh Ray Kroc rất ấn tượng với việc kinh doanh của hãng và ngỏ ý làm đối tác nhượng quyền của họ trên toàn quốc. Một năm sau, Kroc mở cửa hàng McDonald's đầu tiên của mình tại Illinois. Thiết kế cửa hàng màu trắng - đỏ và vòng cung vàng được kiến trúc sư Stanley Meston nghĩ ra năm 1953. Chỉ 10 năm sau, số cửa hàng McDonald’s đã lên tới 700 tại Mỹ.


McDonald's đã có mặt tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Ảnh: Zimbio
Kroc sau đó đã mua lại cổ phần của anh em McDonald trong công ty và niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ năm 1965. Các hoạt động kinh doanh tích cực của Kroc đã đẩy bật hai anh em nhà McDonald ra khỏi ngành công nghiệp đồ ăn nhanh. Tự truyện của cả ba người sau này đều ghi lại họ đã có một quãng thời gian trở mặt với nhau vì tranh giành quyền quản lý McDonald's.

Cửa hàng đầu tiên của McDonald's mở tại nước ngoài là vào năm 1967, tại Canada và Puerto Rico. Ngày nay, họ đã có mặt tại 119 quốc gia trên cả thế giới. Trong đó, riêng tại châu Á là 38 nước. Theo thông báo trên website, hiện McDonald's có hơn 34.000 cửa hàng trên thế giới, chỉ khoảng 20% là do chính công ty điều hành. Logo của hãng được thiết kế lại năm 1969 với chữ M hình vòng cung vàng như ngày nay.

McDonald's hiện là chuỗi cửa hàng hamburger lớn nhất thế giới. Năm 2012, hãng đạt doanh thu 27,5 tỷ USD trên toàn cầu, tính cả các cửa hàng nhượng quyền, tăng 2% so với năm 2011. Lợi nhuận ròng cũng đạt hơn 5,4 tỷ USD, giảm nhẹ so với năm trước đó.

Theo giới phân tích, thành công của McDonald’s đến từ sự quản lý chặt chẽ về chất lượng của các cửa hàng nhượng quyền. Kroc đã đặt ra khẩu hiệu cho các cửa hàng của McDonald’s là phải duy trì "Chất lượng, Phục vụ, Sự sạch sẽ và Giá trị cốt lõi". Kroc thậm chí còn mở hẳn Đại học Hamburger tại Illinois (Mỹ) năm 1961 để đào tạo cho chủ các cửa hàng nhượng quyền tất cả yêu cầu về quản lý của McDonald’s.

Bên cạnh đó, McDonald’s cũng thường xuyên thay đổi để thích nghi với từng quốc gia. Các cửa hàng của hãng tại Mỹ rất khác so với tại Nhật Bản, Trung Quốc hay Ấn Độ, do McDonald’s luôn chú trọng tìm hiểu văn hóa và ẩm thực địa phương.

Tại Trung Quốc, tất cả các loại burger gà đều sử dụng thịt đùi, thay vì thịt ức như truyền thống, theo sở thích của người dân nước này. McDonald’s còn tổ chức bữa ăn Tết âm lịch với các món gà và trang trí cửa hàng bằng biểu tượng 12 con giáp. Các món thịt lợn hay thịt bò cũng không có trong thực đơn của hãng tại Ấn Độ để tôn trọng người theo đạo Hindu và Hồi giáo.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Xà bông Cô Ba, thương hiệu một thời

Bí quyết xà bông Cô Ba đánh bại thương hiệu Pháp

Xà bông Cô Ba có nhiều bọt, chất lượng không thua xà bông ngoại nhập nổi tiếng của Pháp mà giá lại rẻ hơn rất nhiều.

Ngày nay các doanh nghiệp ngày càng đề cao việc xây dựng thương hiệu. Nhưng thật lạ lùng, ngay từ giữa thế kỷ trước Việt Nam đã có hàng loạt thương hiệu nổi tiếng mà đến nay vẫn còn ghi đậm trong ký ức nhiều người. Có những thương hiệu đã “đi về nơi xa” nhưng cũng có những thương hiệu sau thời gian mất tích đã xuất hiện trở lại.

Nhắc về xà bông Cô Ba, ông Trịnh Thành Thuận, sinh năm 1944 (quận 9 TP.HCM), vẫn chưa nằm trong số những khách hàng đầu tiên sử dụng xà bông Cô Ba, bởi loại xà bông này đã ra đời từ năm 1932. Lúc ông Thuận xài đang giai đoạn hoàng kim của xà bông Cô Ba. Nó có mặt trên hầu hết các tiệm tạp hóa ở miền Nam và không tính nổi số gia đình lao động xài nó. Bởi loại xà bông này rất tốt, có nhiều bọt, chất lượng không thua xà bông ngoại nhập nổi tiếng của Pháp mà giá lại rẻ hơn rất nhiều.


Cha đẻ của xà bông Cô Ba là ông Trương Văn Bền. Ông Bền sinh năm 1883, con nhà buôn bán khá giả. Học giỏi và được Pháp tuyển dụng làm ký lục thượng thư nhưng chỉ hai năm ông nghỉ làm để về buôn bán ở cửa hàng của gia đình. Đến năm 1905, ông mở một xưởng sản xuất và tinh luyện tinh dầu ở Thủ Đức. Xưởng làm ăn phát đạt nên ông có tiền mở tiếp hai nhà máy xay xát gạo ở Chợ Lớn, rồi mở khách sạn nhưng lợi nhuận chủ yếu vẫn từ xưởng tinh dầu.


Đến năm 1918, ông Bền mở xưởng dầu thứ hai. Xưởng này sản xuất “đa hệ” từ dầu nấu ăn đến dầu dừa, dầu castor, dầu cao su và các loại dầu dùng trong kỹ nghệ. Nhận thấy tiềm năng dừa ở miền Nam rất lớn nên ông Bền đầu tư vào sản xuất dầu dừa và chính từ dầu dừa đã gợi ý cho ông đi đến bước tiếp theo là sản xuất xà bông.

Vào thời điểm đó, thị trường xà bông ở Việt Nam chủ yếu là hàng Pháp nhập vào, gọi chung là xà bông Marseille. Xà bông trong nước rất ít, chỉ có một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ chiếm thị phần không đáng kể, phần lớn họ sản xuất xà bông “đá” có mùi khó chịu, chỉ để rửa tay hay giặt giũ cho giới lao động, ít ai dám mạo hiểm đầu tư vào mảng xà bông thơm để tắm gội. Ông Bền đã quyết tâm đầu tư vào mảng này để cạnh tranh với hàng ngoại nhập.

Trong hồi ký của mình, ông Bền kể lại: “Tôi đang tìm kiếm tên nào kêu, dễ gọi, dễ nhớ để đặt tên cho xà bông mà chưa kiếm ra. Ngoài Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu nổi lên nhiều chỗ và thất bại. Đến lúc Tây xử tử họ ở Yên Bái thì mười người như một, trước khi đút đầu vô máy chém đều bình tĩnh hô to “Việt Nam vạn tuế” gây một luồng dư luận sôi nổi ở trong nước và thế giới.

Tôi chụp lấy vụ này, lấy tên Việt Nam đặt cho xà bông do người Việt sản xuất để nêu lòng ái quốc đang bùng lên: Xà bông của người Việt làm cho người Việt, người Việt yêu nước phải dùng đồ Việt Nam”.

Nghệ thuật quảng cáo của ông Bền

Xà bông Cô Ba có công thức rất đơn giản: 72% là dầu dừa, còn lại là xút và hương liệu. Tất nhiên ông có bí quyết để mua được loại hương liệu tạo mùi thơm lâu bền nhưng chính quảng cáo mới là lý do lớn nhất khiến nhãn hiệu xà bông này lan rộng nhanh chóng ở miền Nam lúc đó.

Đầu tiên, ông vận động cho việc dùng hàng nội hóa. Các quảng cáo của ông thường ghi dòng chữ “Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam” để đánh vào lòng yêu nước, tự hào dân tộc.

Ông phủ dày đặc các quảng cáo trên áp phích, trên xe điện, xe hơi, trên áo đấu cầu thủ bóng đá, ông đưa cả vào các thể loại âm nhạc rất được ưa chuộng như ca vọng cổ, tuồng cải lương…


Xà bông Cô Ba.

Một chiêu khác cũng được ông Bền kể lại trong hồi ký: “Tôi phải kiếm cách ép mấy hàng tạp hóa mua xà bông Việt Nam về bán. Tiệm tạp hóa hầu hết chỉ mua các món đồ thông dụng, đem lại cho họ mối lợi hằng ngày.

Tôi bèn huy động một tốp người cứ lần lượt hằng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà bông Cô Ba bán không. Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu: “Sao không mua xà bông Việt Nam về bán? Thứ đó tốt hơn xà bông khác nhiều”. Hết người này tới người khác rồi chủ tiệm cũng phải để ý, phải hỏi lại chỗ bán xà bông Việt Nam, mua thử về bán”.

Thực ra chiêu này cũng không phải độc vì một vài dạng hàng hóa cũng từng sử dụng, độc nhất là công ty tổ chức các đoàn sơn đông mãi võ đi biểu diễn khắp các chợ quê miền Nam để quảng bá. Sơn đông mãi võ đến chợ nào người ta cũng bu lại đông nghẹt để xem nhưng gánh thường bán thuốc, khó bán vì không phải ai cũng có nhu cầu mua thuốc và kiểm chứng chất lượng, còn xà bông ai chẳng có nhu cầu. Số xà bông bán qua hình thức này đã nhiều mà còn khiến bà con ghi nhớ thương hiệu.

Thăng trầm một thương hiệu

Sự thành công của xà bông Cô Ba khiến nhiều người khác cũng lao vào kinh doanh mặt hàng, như bà đốc phủ Mầu ra xà bông Con Cọp, ông Balet ra xà bông Nam-Kỳ cũng có biểu tượng người đàn bà Việt Nam như xà bông Cô Ba, ông Nguyễn Phú Hữu ra xà bông “3 sao” ở Cần Thơ… Nhưng tất cả họ đều không địch nổi. Ngay ông Đạo Dừa khi chưa đi tu, lúc đó là kỹ sư hóa học Nguyễn Thành Nam vừa du học ở Rouen (Pháp) về Bến Tre mở hãng xà bông Thiên Nam để cạnh tranh với xà bông Cô Ba và cũng thua thảm. Cỡ như ông Đạo Dừa vốn chuyên gia hóa chất học ở Pháp về, quê ngay xứ dừa còn phải phá sản thì mấy tay ngang khác sao địch lại nổi!

Sau năm 1954, không còn xà bông Pháp, xà bông Cô Ba cạnh tranh với xà bông Mỹ, trong đó đáng kể nhất là xà bông Lifebuoy. Bởi vì đây là loại xà bông dành cho quân đội Mỹ, còn gọi là hàng PX (Post Exchange) bán miễn thuế cho lính Mỹ nên giá rất rẻ, lính Mỹ mua tuồn ra chợ đen, tương tự là xà bông quân tiếp vụ đóng trong hòm gỗ… Ngoài ra còn có ông Trương Văn Khôi, chủ nhân của nhãn hiệu bột giặt Viso, cũng là một thế lực mạnh nhưng xà bông Cô Ba vẫn giữ được thị phần lớn.

Sau năm 1975, Công ty Trương Văn Bền và các con trở thành Nhà máy hợp doanh xà bông Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Đến năm 1995 trở thành Công ty Phương Đông thuộc Bộ Công nghiệp liên doanh với Tập đoàn Procter & Gamble, thương hiệu xà bông Cô Ba được sử dụng lại nhưng không bán được nhiều bởi hơn vài chục năm đứt quãng đủ để một thương hiệu mai một trong tiềm thức người tiêu dùng

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2016

Bài học từ người lái xe Taxi

BÀI HỌC MBA KINH ĐIỂN TỪ NGƯỜI LÁI XE TAXI

Làm thế nào một người lái xe taxi không bằng cấp, không địa vị lại có thể khiến cho một vị CEO lớn phải”tâm phục khẩu phục”? Hãy cùng theo dõi câu chuyện thú vị dưới đây. Bạn sẽ nhận ra rằng có rất nhiều bài học kinh doanh kinh điển không thể tìm thấy ở bất kỳ trường lớp nào, thậm chí ở cả các khóa MBA đắt đỏ.

Tôi cần đi từ Xujiahui đến ngay sân bay nên vội vàng kết thúc cuộc họp và vẫy một chiếc taxi ở ngay phía trước tòa nhà Meiluo.

Một người lái xe taxi nhìn thấy tôi. Anh ta lái xe một cách chuyên nghiệp và dừng lại ngay trước mặt tôi. Và câu chuyện tiếp theo với người lái taxi đã đem lại cho tôi nhiều bài học bất ngờ như thể tôi đang tham dự một khóa học MBA vô cùng sống động.

"Ông muốn đi đâu ạ?"

"Làm ơn tới sân bay"

"Vâng, thưa ông", người tài xế tiếp tục cuộc trò chuyện.

"Ở khu Xujiahui, tôi thường đón khách ở phía trước tòa nhà Meiluo. Tôi chỉ đón hai nơi: tòa nhà Meiluo và Junyao. Ông có biết, tôi đã đi vòng quanh tòa nhà Meiluo hai lần trước khi nhìn thấy ông. Những người rời khỏi khỏi tòa nhà văn phòng này chắc chắn không đi tới một nơi nào đó gần đây".

"Ồ, anh quả thật rất rất thông minh!", tôi tán thưởng.

"Là một tài xế taxi, chúng tôi cũng phải làm việc theo phương pháp khoa học", người tài xế nói.

Tôi rất ngạc nhiên và tò mò: "Phương pháp khoa học gì?"

"Tôi phải hiểu rõ những con số. Để tôi giải thích với ông. Trung bình một ngày tôi lái xe 17 tiếng, vì vậy chi phí tính theo giờ của tôi là 34.5 tệ".

Tôi ngắt lời: "Làm thế nào mà anh tính được con số đó?"

"Ông có thể tính như sau: Mỗi ngày tôi phải trả 380 tệ cho công ty để thuê xe. Tiền xăng khoảng 210 tệ. Tôi làm việc 17 giờ mỗi ngày. Nếu tính theo giờ, chi phí cố định mà tôi phải trả cho công ty taxi là 22 tệ và 12.5 tệ tiền xăng. Chẳng phải là 34.5 tệ đó sao? "

Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi đi taxi mười năm nay nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một người tài xế tính toán chi phí theo cách này. Trước đây, tất cả các tài xế đều nói rằng chi phí cho mỗi kilômét là 30 tệ bao gồm tất cả các phí nộp về công ty.

"Không nên tính toán chi phí theo mỗi kilômét mà nên tính theo giờ. Ông thấy đấy, mỗi công tơ mét có chức năng “xem lại” thông qua đó có thể xem chi tiết trong ngày. Tôi đã phân tích các dữ liệu. Khoảng thời gian giữa các khách hàng trung bình là bảy phút. Nếu tôi bắt đầu tính doanh thu khi có khách vào xe, tôi kiếm được 10 tệ trong khoảng 10 phút. Nhưng mỗi khách hàng trả 10 tệ và tôi mất 17 phút, thì chi phí thực sự là 9.8 tệ (= 34,5 x 17/60)".

Giả sử chúng tôi chở khách hàng tới sân bay để có đủ tiền trả cho một bữa ăn, nhưng khách hàng lại chỉ đi một đoạn ngắn, 10 tệ cho 10 phút, thì chúng tôi chỉ có nước nhịn đói".

Thật đáng kinh ngạc. Người lái xe này không có vẻ giống như một người lái xe taxi mà giống như một kế toán hơn.

"Vậy anh đã làm thế nào?" Tôi thấy hứng thú hơn và tiếp tục câu chuyện với người lái xe. Dường như tôi sẽ học được một điều gì đó mới mẻ trên đường đến sân bay.

"Ông không được để cho khách hàng quyết định mọi thứ. Ông quyết định những gì mình muốn làm dựa trên vị trí, thời gian và khách hàng".

Tôi cực kỳ ngạc nhiên, nhưng điều này có rất nhiều ý nghĩa.

"Có người nói rằng lái xe taxi là một nghề phụ thuộc nhiều vào may mắn. Tôi không nghĩ như vậy. Tôi phải đứng ở vị trí của khách hàng và xem xét mọi thứ từ quan điểm của khách hàng".

Những gì người lái xe taxi nói nghe có vẻ rất giống với những gì mà nhiều giảng viên quản trị kinh doanh vẫn thường nói: "Đặt mình vào vị trí của người khác".

"Tôi sẽ cho ông thấy một ví dụ. Ông đang đứng ở cổng bệnh viện. Có người cầm một túi thuốc và một người khác đang cầm một chiếc chậu. Ông sẽ đón vị khách nào?".

Tôi nghĩ về điều đó và trả lời rằng tôi không biết.

"Hãy đón người đang cầm chiếc chậu. Nếu ông chỉ bệnh vặt và muốn được kiểm tra để lấy ít thuốc, ông sẽ không đi đến một bệnh viện ở xa. Còn người nào mang theo chậu thì chắc chắn là họ đã được xuất viện".

Người lái xe taxi tiếp tục nói: "Khi nhập viện, nhiều người không may mắn qua khỏi. Hôm nay, một bệnh nhân nào đó trên tầng hai qua đời. Ngày mai, một bệnh nhân khác trên tầng ba qua đời. Điều đó khiến những người được xuất viện có cảm giác là họ đã may mắn được trao tặng một cuộc sống thứ hai, họ nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống một lần nữa - sức khỏe là điều quan trọng nhất. Một bệnh nhân vừa mới xuất viện nói với tôi, "Đi ... đi đến Qingpu". Ông có nghĩ rằng rằng vị khách đó muốn bắt taxi đến People’s Plaza để chuyển sang đi tàu điện ngầm tới Qingpu? Tuyệt đối không! Vị khách đó chắc chắn sẽ đi taxi để tận hưởng một chuyến đi thoải mái".

Tôi bắt đầu thấy ngưỡng mộ người tài xế.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công

"Để tôi kể cho ông nghe một ví dụ khác. Một hôm, tại People’s Plaza, có ba khách hàng tiềm năng vẫy tôi. Một phụ nữ trẻ, vừa mua sắm xong, đang lỉnh kỉnh xách một đống túi. Tiếp theo là một cặp vợ chồng trẻ có vẻ vừa ra ngoài đi dạo. Vị khách thứ ba là một người đàn ông mặc một chiếc áo lụa, khoác áo khoác và cầm túi đựng máy tính xách tay".

Người lái xe taxi tiếp tục, "Tôi chỉ mất ba giây để nhìn vào mỗi vị khách và tôi dừng lại trước mặt người đàn ông mà không chút do dự. Khi người đàn ông này bước vào xe, ông nói địa chỉ: “Cao tốc Yannan". Và ông ấy không thể không hỏi tôi, "Tại sao anh lại dừng đón tôi mà không do dự? Có hai người ở phía trước. Họ cũng muốn bắt xe. Tôi hơi ngại ngần khi giành xe với họ". Tôi trả lời: "Giờ đang là buổi trưa, chỉ chừng hơn chục phút nữa là đến 01h00. Người phụ nữ trẻ tranh thủ buổi trưa ra ngoài mua sắm và tôi đoán chắc công ty của cô ấy phải ở gần đó. Cặp vợ chồng là khách du lịch vì họ không mang theo thứ gì và họ sẽ không đi xa. Còn ông ra ngoài vì công việc. Ông mang theo túi đựng máy tính xách tay. Nếu ông đi ra ngoài vào lúc này, tôi đoán chỗ đó sẽ không quá gần’. Người đàn ông đó nói, "Anh nói đúng. Tôi đến Baoshan".

Rất có lý! Tôi bắt đầu thích thú cuộc trò chuyện với người lái xe taxi hơn.

"Nhiều tài xế phàn nàn rằng làm ăn ngày càng khó khăn, giá xăng dầu lại tăng. Họ cố gắng đổ lỗi cho người khác. Nếu ông tìm cách đổ lỗi cho người khác, ông sẽ không bao giờ nhận được điều gì tốt đẹp hơn. Ông phải tìm vấn đề ở chính mình”. Điều này nghe có vẻ rất quen thuộc. Nó giống như câu nói "Nếu bạn không thể thay đổi thế giới, thì bạn nên thay đổi chính mình" hoặc giống như ý tưởng bị đánh cắp bản quyền của Steven Corey về "Vòng tròn ảnh hưởng và Vòng tròn quan tâm".

"Một lần, trên đường Nandan, một vị khách vẫy xe tôi và muốn đi đến Tianlin. Một lần khác, một vị khách khác cũng vẫy xe trên đường Nandan và ông ta cũng muốn đi đến Tianlin. Vì vậy, tôi đã hỏi, "Tại sao mọi người vẫy xe ở Nandan đều muốn đến đường Tianlin?". Vị khách đó liền giải thích, "Ở đường Nandan có một điểm xe buýt công cộng. Chúng tôi đều đi xe buýt từ Pudong đến Nandan, và sau đó đi taxi đến Tianlin”. Tôi liền hiểu ngay. Ông hãy nhìn con đường mà chúng ta vừa đi qua. Không có văn phòng, không có khách sạn, không có gì. Chỉ có một trạm xe buýt công cộng. Những người vẫy taxi chủ yếu là những người vừa mới xuống khỏi xe buýt công cộng, và họ chỉ đi taxi một đoạn đường ngắn. Những người vẫy taxi ở đây thường đi không quá 15 tệ. Thế nên, tôi không bao giờ quay trở lại để đón khách tại đường Nandan trong giờ đó nữa".

"Vì vậy, tôi mới nói rằng thái độ quyết định tất cả mọi thứ!"

Tôi đã nghe rất nhiều CEO của các công ty phát biểu như vậy, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe điều đó từ một người lái xe taxi.

Người lái xe taxi tiếp tục câu chuyện của mình, "Chúng tôi phải sử dụng các phương pháp khoa học và các số liệu thống kê để làm việc. Những người cứ hàng ngày đợi khách ở tàu điện ngầm sẽ không bao giờ kiếm được tiền. Làm thế nào để kiếm được 500 tệ đưa cho vợ con mỗi tháng? Ông phải trang bị cho mình kiến thức. Ông phải học hỏi để trở thành một người thông minh. Một người thông minh học hỏi để trở thành một người rất thông minh. Một người rất thông minh học hỏi để trở thành một thiên tài".

"Có một lần, một vị khách muốn bắt taxi để đi đến ga tàu. Tôi hỏi ông ấy muốn đi như thế nào. Ông ta chỉ đường và tôi nói rằng nếu đi theo đường đó sẽ rất lâu. Tôi đề nghị đi đường cao tốc trên cao nhưng vị khách đó bảo đi theo đường đó rất xa. Tôi mới bảo ông ta: "Không vấn đề gì. Ông vẫn thường đi theo đường đó và mất khoảng 50 tệ. Nếu đi theo đường của tôi, đến 50 tệ tôi sẽ tắt đồng hồ tính tiền. Ông chỉ phải trả cho tôi 50 tệ. Phần vượt quá tôi sẽ trả. Nếu đi theo cách của ông sẽ mất 50 phút nhưng đi theo đường của tôi sẽ chỉ mất 25 phút". Cuối cùng, chúng tôi đã đi theo cách của tôi. Chúng tôi đi xa thêm bốn cây số nữa nhưng nhanh hơn 25 phút. Tôi chấp nhận chỉ lấy đúng 50 tệ. Vị khách hàng rất vui mừng vì đã tiết kiệm được 10 tệ. Nhưng ông ta không biết là đi thêm bốn cây số tôi chỉ mất thêm hơn 1 tệ tiền xăng. Vì vậy, tôi đã đổi 1 tệ này để tiết kiệm 25 phút thời gian của tôi. Như tôi vừa nói, chi phí theo giờ của tôi là 34,5 tệ. Điều đó rất đáng giá với tôi! Cả hai cùng được lợi!"

"Trong một công ty taxi công, một tài xế bình thường chỉ kiếm được 3-4 nghìn tệ mỗi tháng. Người nào giỏi hơn có thể kiếm được khoảng năm nghìn tệ. Những tài xế thuộc top đầu có thể kiếm được bảy ngàn tệ. Trong khoảng 20.000 tài xế, chỉ 2-3 người mới có thể kiếm được hơn 8.000 tệ một tháng. Tôi là một trong số đó. Hơn nữa, thu nhập của tôi rất ổn định mà không có quá nhiều biến động".

Đến lúc này, tôi cảm thấy càng ngưỡng mộ người tài xế taxi này hơn."Tôi thường nói với mọi người rằng tôi là một người lái xe hạnh phúc. Một số người nói, "Bởi vì anh kiếm được rất nhiều tiền nên đương nhiên là anh hạnh phúc rồi". Tôi nói với họ, 'Anh nói sai rồi. Tôi luôn vui vẻ và suy nghĩ tích cực, đó mới là lý do tại sao tôi kiếm được nhiều tiền'".

Thật là một cách giải thích tuyệt vời!

"Ông phải trân trọng những vẻ đẹp mà công việc của ông đem lại. Khi bị mắc kẹt trong ùn tắc giao thông ở People’s Plaza, nhiều lái xe phàn nàn, "Trời ơi, lại tắc đường! Thật là không may!". Đừng suy nghĩ như vậy. Hãy cố gắng cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Ngắm nhìn rất nhiều cô gái xinh đẹp đi ngang qua. Hay ngắm nhìn các tòa cao ốc hiện đại. Khi lái xe đến sân bay, ông có thể ngắm nhìn rặng cây xanh hai bên đường. Vào mùa đông, chúng phủ đầy tuyết trắng tuyệt đẹp. Và nhìn vào đồng hồ tính tiền - đang hiển thị con số hơn 100 tệ. Điều đó thậm chí còn tuyệt vời hơn! Mỗi công việc đều có vẻ đẹp riêng. Và chúng ta cần phải học cách để cảm nhận vẻ đẹp đó trong dòng chảy hối hả của công việc".

Khi ra đến sân bay, tôi trao cho người tài xế danh thiếp của mình và nói, "Thứ sáu này, liệu anh có vui lòng đến văn phòng của tôi để giảng giải cho đội ngũ nhân viên của tôi về cách anh vận hành chiếc xe taxi của mình? Anh có thể coi như đồng hồ tính tiền đang chạy. Và tôi sẽ trả tiền cho khoảng thời gian mà anh chia sẻ cùng chúng tôi. Hãy gọi cho tôi".

Dịch từ Vulcan Post
-------------------------------------------------------------